Phần mềm quản lý văn bản theo Nghị định 30: đối chiếu từng điều trước khi chọn
Nghị định 30/2020/NĐ-CP gồm 7 chương, 38 điều và 6 phụ lục, có hiệu lực từ ngày ký 5/3/2020 và thay thế hai nghị định trước đó. Phần lớn tiêu chí chọn phần mềm quản lý văn bản cho cơ quan nhà nước đã nằm sẵn trong văn bản này, nhưng ít hồ sơ yêu cầu đối chiếu đủ.
Phạm vi điều chỉnh của Nghị định 30
Theo Điều 1, nghị định quy định về công tác văn thư và quản lý nhà nước về công tác văn thư, gồm bốn nhóm việc: soạn thảo, ký ban hành văn bản; quản lý văn bản; lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan; quản lý và sử dụng con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật trong công tác văn thư. Một phần mềm chỉ thực hiện việc luân chuyển văn bản đến và đi mới phủ được một nửa phạm vi này.
Nghị định có hiệu lực kể từ ngày ký, tức ngày 5/3/2020, đồng thời chấm dứt hiệu lực của Nghị định 110/2004/NĐ-CP và Nghị định 09/2010/NĐ-CP. Trong tài liệu kỹ thuật của nhà cung cấp, việc còn dẫn hai nghị định đã hết hiệu lực là dấu hiệu sản phẩm chưa được cập nhật.
Điều 5 và yêu cầu hai lớp chữ ký số
Điều 5 quy định văn bản điện tử được ký số bởi người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật thì có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy; chữ ký số trên văn bản điện tử phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật. Hai vế này đi liền nhau, do đó phần mềm phải hỗ trợ cả chữ ký số của cá nhân có thẩm quyền lẫn chữ ký số của cơ quan, đồng thời kiểm tra được hiệu lực của chữ ký.
Trên thực tế, cơ quan nhà nước ký bằng chứng thư số chuyên dùng; lãnh đạo ký cá nhân bằng thiết bị lưu khóa bí mật dạng USB; đơn vị có khối lượng văn bản lớn cần ký tập trung qua thiết bị HSM để không phải cắm token cho từng văn bản. Hình thức ký mà hệ thống hỗ trợ là nội dung cần được làm rõ, kèm một lần chạy thử kiểm tra văn bản đến có chữ ký đã hết hạn.
Điều 7 và Điều 8: 29 loại văn bản, chín thành phần thể thức
Điều 7 liệt kê 29 loại văn bản hành chính, từ nghị quyết cá biệt, quyết định cá biệt, chỉ thị, quy chế, quy định cho tới công văn, công điện, giấy mời, phiếu gửi và thư công. Phần mềm cần có sẵn mẫu cho các loại văn bản này thay vì để văn thư tự dựng, và quan trọng hơn là cho phép đơn vị bổ sung loại mới khi phát sinh.
Điều 8 quy định thể thức văn bản hành chính gồm chín thành phần chính: Quốc hiệu và Tiêu ngữ; tên cơ quan, tổ chức ban hành; số, ký hiệu; địa danh và thời gian ban hành; tên loại và trích yếu nội dung; nội dung; chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền; dấu, chữ ký số của cơ quan, tổ chức; nơi nhận. Ngoài ra còn các thành phần bổ sung như phụ lục, dấu chỉ độ mật và mức độ khẩn, ký hiệu người soạn thảo. Trình bày chi tiết theo Phụ lục I của nghị định.
Yêu cầu thực tế với phần mềm là bản in ra và bản PDF phát hành phải đúng thể thức, đúng cỡ chữ, lề và vị trí từng thành phần. Nội dung này được kiểm tra trực tiếp trong buổi chạy thử, bằng cách in một quyết định và một công văn, đặt cạnh mẫu tại Phụ lục I để đối chiếu.
Điều 14 và trình tự năm bước của văn bản đi
Điều 14 quy định trình tự quản lý văn bản đi gồm năm bước theo đúng thứ tự: cấp số và thời gian ban hành văn bản; đăng ký văn bản đi; nhân bản, đóng dấu cơ quan, dấu chỉ độ mật và mức độ khẩn đối với văn bản giấy, hoặc ký số của cơ quan đối với văn bản điện tử; phát hành và theo dõi việc chuyển phát; lưu văn bản đi. Quy trình cấu hình trong phần mềm phải khớp đúng năm bước này, kể cả khi đơn vị muốn rút gọn.
Hai nội dung thường phát sinh vướng mắc. Thứ nhất là cấp số: hệ thống phải cấp số theo sổ, theo loại văn bản và theo năm, không được trùng và không được để trống khoảng giữa khi một văn bản bị hủy. Thứ hai là lưu văn bản đi: bản gốc phải lưu lại được ở dạng không chỉnh sửa, vì đây là căn cứ khi đối chiếu về sau.
Điều 20 và trình tự bốn bước của văn bản đến
Điều 20 quy định bốn bước: tiếp nhận văn bản đến; đăng ký văn bản đến; trình, chuyển giao văn bản đến; giải quyết và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết văn bản đến. Điều 24 nói rõ thêm rằng đơn vị hoặc cá nhân có trách nhiệm giải quyết theo thời hạn quy định tại quy chế làm việc của cơ quan, và những văn bản đến có dấu chỉ các mức độ khẩn phải được giải quyết ngay.
Ba tính năng bắt buộc được rút ra từ quy định này. Hệ thống phải ấn định thời hạn xử lý cho từng văn bản theo quy chế của cơ quan, nhận biết và ưu tiên dấu chỉ mức độ khẩn, đồng thời thống kê tình hình xử lý đúng hạn và quá hạn theo từng đơn vị, từng cá nhân. Báo cáo này được lãnh đạo sử dụng hằng tuần, vì vậy cần được kiểm tra ngay trong buổi chạy thử thay vì để đến khi nghiệm thu.
Điều 25 và 26: ba hình thức bản sao
Điều 25 quy định ba hình thức bản sao là sao y, sao lục và trích sao, mỗi hình thức lại có các chiều chuyển đổi riêng giữa văn bản giấy và văn bản điện tử. Đáng chú ý, sao y từ văn bản giấy sang văn bản điện tử được thực hiện bằng việc số hóa văn bản giấy và ký số của cơ quan, tổ chức. Điều 26 khẳng định bản sao y, sao lục và trích sao thực hiện đúng quy định có giá trị pháp lý như bản chính.
Đây là nội dung nhiều hệ thống đáp ứng chưa đầy đủ. Việc scan một văn bản giấy rồi đính kèm vào hệ thống không tạo ra bản sao y hợp lệ, vì còn thiếu bước ký số của cơ quan lên bản đã số hóa. Khi so sánh sản phẩm, các hình thức bản sao mà hệ thống tạo được và việc bản sao có kèm chữ ký số của cơ quan hay không là nội dung cần được làm rõ.
Điều 28 đến Điều 31: lập hồ sơ và nộp lưu
Điều 28 quy định Danh mục hồ sơ do người đứng đầu cơ quan, tổ chức phê duyệt, được ban hành vào đầu năm và gửi các đơn vị, cá nhân liên quan làm căn cứ để lập hồ sơ, theo mẫu tại Phụ lục V. Điều 29 quy định trình tự mở hồ sơ, thu thập và cập nhật văn bản vào hồ sơ, rồi kết thúc hồ sơ khi công việc đã giải quyết xong, trong đó người lập hồ sơ phải rà soát lại toàn bộ, loại bỏ bản trùng và bản nháp, xác định lại thời hạn bảo quản.
Điều 30 đặt ra thời hạn cụ thể: hồ sơ, tài liệu xây dựng cơ bản nộp lưu trong 3 tháng kể từ ngày công trình được quyết toán; các hồ sơ, tài liệu khác nộp lưu trong 1 năm kể từ ngày công việc kết thúc. Với hồ sơ điện tử, cá nhân được giao nhiệm vụ nộp lưu trên Hệ thống và Lưu trữ cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, nhận hồ sơ.
Ba yêu cầu đặt ra với phần mềm. Hệ thống phải quản lý Danh mục hồ sơ theo năm, đưa mỗi văn bản vào hồ sơ tương ứng ngay trong quá trình xử lý thay vì dồn đến cuối năm, đồng thời cảnh báo khi hồ sơ đã kết thúc quá thời hạn mà chưa nộp lưu. Thiếu cảnh báo này, việc chậm nộp lưu chỉ được phát hiện khi kiểm tra.
Điều 32 và 33: con dấu và thiết bị lưu khóa bí mật
Điều 32 giao Văn thư cơ quan quản lý, bảo quản an toàn và sử dụng con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật tại trụ sở cơ quan; chỉ giao cho người khác khi được phép bằng văn bản của người có thẩm quyền và việc bàn giao phải lập biên bản. Văn thư phải trực tiếp đóng dấu, ký số vào văn bản do cơ quan ban hành, và chỉ được đóng dấu, ký số vào văn bản đã có chữ ký của người có thẩm quyền.
Quy định này ràng buộc trực tiếp cách phần mềm thiết kế quyền. Việc ký số của cơ quan phải là một bước riêng, thuộc vai trò văn thư, và hệ thống phải chặn thao tác đóng dấu lên văn bản chưa có chữ ký của người có thẩm quyền. Mọi lần ký số của cơ quan đều phải lưu vết đủ để đối chiếu khi kiểm tra.
Bảng đối chiếu điều khoản và yêu cầu đối với phần mềm
| Điều | Nội dung quy định | Yêu cầu đối với phần mềm | Cách kiểm |
|---|---|---|---|
| Điều 5 | Văn bản điện tử ký số đủ hai lớp có giá trị như bản gốc | Ký số cá nhân bằng thiết bị lưu khóa bí mật và ký số của cơ quan, kiểm tra hiệu lực chữ ký văn bản đến | Đưa một văn bản có chữ ký hết hạn và xem hệ thống báo gì |
| Điều 8 | Chín thành phần thể thức, trình bày theo Phụ lục I | Dựng đúng thể thức khi in và khi phát hành bản điện tử | In một quyết định rồi đặt cạnh mẫu Phụ lục I |
| Điều 14 | Năm bước văn bản đi theo đúng thứ tự | Cấp số theo sổ, theo loại và theo năm; lưu bản gốc không chỉnh sửa được | Hủy một văn bản đã cấp số và xem sổ có bị trống số không |
| Điều 20, 24 | Bốn bước văn bản đến, giải quyết theo thời hạn, văn bản khẩn giải quyết ngay | Ấn định thời hạn theo quy chế, nhận biết mức độ khẩn, thống kê đúng hạn và quá hạn theo người | Mở bảng thống kê quá hạn theo từng cá nhân |
| Điều 25, 26 | Ba hình thức bản sao; sao y sang điện tử phải số hóa và ký số của cơ quan | Tạo được sao y, sao lục, trích sao kèm chữ ký số của cơ quan | Tạo một bản sao y từ văn bản giấy và kiểm chữ ký số trên file nhận được |
| Điều 28, 29 | Danh mục hồ sơ ban hành đầu năm; mở, cập nhật và kết thúc hồ sơ | Quản lý Danh mục hồ sơ theo năm, đưa văn bản vào hồ sơ ngay khi xử lý | Tạo một hồ sơ mới ngoài Danh mục và xem hệ thống xử lý ra sao |
| Điều 30 | Nộp lưu trong 3 tháng với hồ sơ xây dựng cơ bản, 1 năm với hồ sơ khác | Cảnh báo hồ sơ đã kết thúc quá hạn chưa nộp lưu | Đặt ngày kết thúc lùi về quá khứ và xem hệ thống có cảnh báo không |
| Điều 32, 33 | Văn thư giữ và trực tiếp dùng con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật; chỉ đóng dấu lên văn bản đã có chữ ký của người có thẩm quyền | Ký số của cơ quan là bước riêng thuộc vai trò văn thư, chặn đóng dấu khi chưa có chữ ký | Thử đóng dấu lên văn bản chưa ký và xem hệ thống chặn thế nào |
Sáu nội dung kiểm tra trong buổi chạy thử
- Đưa một văn bản đến có chữ ký số đã hết hạn và xem hệ thống báo gì, thay vì chỉ xem luồng chạy thuận.
- In một quyết định và một công văn do hệ thống dựng, đặt cạnh mẫu trong Phụ lục I của nghị định rồi so từng thành phần.
- Hủy một văn bản đã cấp số rồi mở sổ đăng ký, kiểm tra hệ thống xử lý số đã cấp thế nào.
- Tạo một bản sao y từ văn bản giấy, tải file nhận được về và kiểm tra chữ ký số của cơ quan trên đó.
- Thử đóng dấu cơ quan lên một văn bản chưa có chữ ký của người có thẩm quyền, xem hệ thống chặn ra sao và ghi lại gì.
- Mở bảng thống kê văn bản quá hạn theo từng đơn vị và từng cá nhân, kiểm tra số liệu có khớp với dữ liệu vừa nhập hay không.
Ba nội dung thường chưa được nêu trong hồ sơ yêu cầu
- Bản sao. Nhiều hồ sơ nêu yêu cầu số hóa văn bản giấy nhưng chưa nêu yêu cầu tạo bản sao y có ký số của cơ quan theo Điều 25. Khi vận hành, bản scan vì vậy không đủ điều kiện pháp lý.
- Danh mục hồ sơ. Điều 28 yêu cầu ban hành đầu năm, nhưng phần mô tả chức năng thường dừng ở quản lý văn bản đến và đi, chưa đề cập khâu lập hồ sơ, dẫn tới cuối năm phải tập hợp thủ công.
- Thời hạn nộp lưu. Hai mốc 3 tháng và 1 năm tại Điều 30 hiếm khi xuất hiện trong yêu cầu kỹ thuật, do đó hệ thống thường không có cảnh báo và việc chậm nộp lưu chỉ được phát hiện khi kiểm tra.
Giải pháp của Aidox
Các yêu cầu nêu trên là những gì đội ngũ Aidox đối chiếu khi dựng quy trình văn bản cho cơ quan nhà nước. Phần mềm quản lý văn bản và điều hành của Aidox là Aidox eOffice, dựng quy trình văn bản đi và đến theo đúng thứ tự của Điều 14 và Điều 20, hỗ trợ ký số cá nhân, ký số của cơ quan và ký tập trung qua thiết bị HSM. Khối tài liệu lưu trữ cũ do Aidox Corpus xử lý, đọc được cả tài liệu gõ bằng bảng mã VNI và TCVN3. Hệ thống cài trên máy chủ của đơn vị, kể cả trong mạng kín. Thông tin đầy đủ ở trang giải pháp cho khu vực công.